So Sánh Chi Phí Đầu Tư Và Vận Hành Hệ VRV Và Chiller

    Xem thêm mục lục

    Hệ VRV và Chiller không chênh nhau ở giá thiết bị, mà chênh ở chỗ chi phí rơi vào đâu. Ba biến số quyết định đáp án cho từng dự án là quy mô tải, số giờ vận hành thực tế và cách chủ đầu tư phân kỳ dòng vốn. Phần khó thấy nhất lại nằm ngoài gói cơ điện: những gì mỗi hệ bắt kiến trúc, kết cấu và hạ tầng điện phải gánh thêm.

    Hệ VRV Và Chiller Khác Nhau Ở Đâu Trong Bài Toán Chi Phí?

    Hai hệ khác nhau ở chỗ đặt chi phí. Hệ VRV dồn phần lớn vốn vào thiết bị cùng tuyến môi chất và có thể lắp theo từng cụm. 

    Hệ chiller chuyển một phần đáng kể chi phí sang hạ tầng kỹ thuật của công trình, gồm phòng máy, bơm, đường ống nước và tháp giải nhiệt, phần thường nằm ngoài báo giá của nhà thầu cơ điện.

    Điểm khác biệt nằm ở thứ được đưa vào không gian sử dụng. Hệ VRV dẫn môi chất lạnh từ dàn nóng đi thẳng tới các dàn lạnh đặt trong phòng. 

    Hệ chiller tạo ra nước lạnh, nước lạnh mới chạy tới AHU hoặc FCU, tại đó coil trao đổi nhiệt với không khí rồi quạt phân phối khí đã xử lý ra không gian. Nói cách khác, chiller không thổi khí lạnh trực tiếp vào phòng như nhiều người hình dung.

    Sơ đồ nguyên lý hoạt động của hệ VRV và Chiller trong công trình cao tầng

    Đặt cạnh nhau theo 5 hạng mục chi phí trong bảng dưới đây sẽ giúp chủ đầu tư nắm rõ khác biệt giữa hai hệ VRV và Chiller:

    Hạng mục chi phíHệ VRVHệ chiller
    Thiết bị trung tâmDàn nóng đặt phân tán theo cụmChiller đặt tập trung trong phòng máy
    Thứ chạy trong tuyến ốngMôi chất lạnhNước lạnh
    Tuyến chi phí riêngỐng môi chất, dàn lạnh phân tánBơm, ống nước, bảo ôn, tháp giải nhiệt
    Không gian kỹ thuật đòi hỏiVị trí đặt dàn nóng, shaft môi chấtPhòng máy, shaft nước, khu tháp giải nhiệt
    Khả năng phân kỳ vốnLắp theo cụm, theo tiến độ khai thácTrục chính phải xong trước khi khai thác

    5 hạng mục chi phí trong bảng trên đã cho thấy chi phí không chỉ đổi về độ lớn mà đổi cả địa chỉ, vì thứ chạy trong ống khác nhau kéo theo danh mục hạ tầng khác nhau. 

    Đó là lý do hai báo giá đặt cạnh nhau thường không cùng phạm vi, và việc chọn hệ bằng cách so hai con số cuối bảng gần như luôn dẫn tới kết luận sai. Phần dưới tách chi phí đầu tư thành từng lớp để thấy chỗ lệch nằm ở đâu.

    Chi Phí Đầu Tư Ban Đầu Của Hai Hệ VRV Và Chiller Bao Gồm Những Khoản Nào?

    Chi phí đầu tư của cả hai hệ gồm ba lớp: thiết bị, lắp đặt, và phần kéo theo mà công trình phải gánh. Lớp thứ ba là nơi hai hệ tách nhau xa nhất, đồng thời là lớp hay bị bỏ khỏi bảng so sánh, vì báo giá nhà thầu cơ điện dù chi tiết đến đâu cũng thường chỉ phủ hai lớp đầu.

    so sánh chi phí thiết bị, lắp đặt và hạ tầng của hệ VRV và Chiller

    Phần Chi Phí Nằm Trong Báo Giá Thiết Bị

    Lớp này gồm thiết bị chính, tuyến ống, van, hệ điều khiển, công lắp đặt và chạy thử. Với hệ VRV, thiết bị chính là dàn nóng cùng các dàn lạnh và tuyến ống dẫn môi chất. 

    Với hệ chiller, danh mục dài hơn: bản thân chiller, bơm nước lạnh, AHU hoặc FCU, đường ống nước kèm lớp bảo ôn chống ngưng tụ. 

    Chọn giải nhiệt bằng nước thì cộng thêm tháp giải nhiệt và hệ xử lý nước tuần hoàn; chọn giải nhiệt bằng gió bỏ được tháp, đổi lại là bài toán vị trí đặt thiết bị và diện tích thông thoáng cho dàn ngưng.

    Phần Chi Phí Hệ VRV Và Chiller Đẩy Sang Bộ Môn Khác

    Đây là các khoản mà hệ cơ điện chuyển sang cho những bộ môn khác gánh, và cũng là lớp không xuất hiện trong bất kỳ báo giá cơ điện nào.

    Phòng máy của hệ chiller cần diện tích, chiều cao, giải pháp chống rung, thông gió và lối vận chuyển thiết bị ra vào. Toàn bộ phần đó lấy từ quỹ diện tích tầng hầm hoặc tầng kỹ thuật, tức lấy từ chỗ lẽ ra sinh ra doanh thu.

    Tải trọng kết cấu thay đổi theo phương án, vì dàn nóng, chiller, bơm và tháp giải nhiệt đều tạo thêm tải mà kết cấu phải gánh.

    Shaft và lỗ mở cũng khác nhau, vì tuyến nước lạnh và tuyến môi chất không chiếm cùng một thể tích. Danh mục shaft, sleeve và lỗ mở nên được phối hợp ngay từ thiết kế cơ sở, bởi thay đổi muộn sẽ ảnh hưởng tới cấu kiện và kéo theo sửa hồ sơ nhiều bộ môn.

    Hạ tầng điện khép lại danh sách. Công suất yêu cầu, dung lượng trạm biến áp, tủ điện và tuyến cáp đều thay đổi theo phương án, và sai lệch ở khâu này thường chỉ lộ ra khi hồ sơ đã đi khá xa. Đây là phần công việc thuộc phạm vi tư vấn thiết kế cơ điện MEPF tại Song Anh.

    Hệ chiller đòi vốn tập trung sớm hơn, vì phòng máy và tuyến trục phải hoàn thiện trước khi phần diện tích đầu tiên được đưa vào sử dụng. Với dự án bán hoặc cho thuê theo giai đoạn, đây là khác biệt về dòng tiền, không chỉ về tổng vốn.

    Chi Phí Vận Hành Được Quyết Định Bởi Những Yếu Tố Nào?

    Chi phí vận hành của hệ VRV và Chiller do đặc tính tải theo thời gian quyết định, không do nhãn hệ. Bốn yếu tố chi phối gồm tỷ lệ thời gian chạy non tải, số giờ vận hành, mức độ phân vùng điều khiển, cùng chi phí bảo trì và nhân sự.

    Đặc tính non tải đáng chú ý nhất vì trái với trực giác. Một công trình hiếm khi chạy đủ tải thiết kế, phần lớn số giờ trong năm hệ chỉ làm việc ở vùng tải thấp hơn điểm tải danh định. Hệ nào giữ được hiệu quả tốt hơn trong vùng đó sẽ quyết định hóa đơn điện, chứ không phải hệ nào có thông số đẹp hơn trên catalogue.

    Số giờ vận hành khiến cùng một cặp hệ cho ra hai kết luận ngược nhau. Một tải lớn chạy gần như liên tục và một tải vừa chạy theo giờ hành chính không thể dùng chung một phép tính hoàn vốn.

    Mô phỏng hạ tầng kỹ thuật VRV và Chiller trong công trình cao tầng

    Phân vùng điều khiển quyết định lượng điện tiêu tốn cho phần diện tích không có người dùng. Hệ VRV có lợi thế khi cần chia nhỏ phân vùng, nhưng lợi thế đó chỉ thành tiền khi công trình thật sự có nhiều khoảng thời gian trống người.

    Bảo trì và nhân sự là khoản dễ bị bỏ sót nhất. Hệ chiller thường cần nhân sự vận hành cùng quy trình bảo trì phòng máy và vệ sinh tháp giải nhiệt định kỳ, còn hệ VRV vận hành tự động hơn nhưng khối lượng bảo trì trải rộng theo công trình thay vì gom về một chỗ.

    Hiệu quả năng lượng còn là ràng buộc pháp lý chứ không chỉ là bài toán kinh tế. QCVN 09:2017/BXD về công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả quy định chỉ số hiệu quả năng lượng tối thiểu cho cả thiết bị điều hòa không khí lẫn máy sản xuất nước lạnh. Phiên bản áp dụng cần được xác minh theo thời điểm lập hồ sơ.

    Đặt vào tư duy đầu tư thì rõ hơn: chi phí điện là khoản trả hàng năm suốt vòng đời công trình, nên một chênh lệch nhỏ mỗi năm vẫn có thể vượt qua chênh lệch vốn ban đầu, với điều kiện số giờ vận hành đủ lớn để tích lũy khoản chênh đó. Bỏ qua vế điều kiện này chính là chỗ nhiều bảng so sánh kết luận vội.

    Vì Sao Không Có Hệ Nào Là Tối Ưu Chi Phí Hơn Trong Mọi Dự Án?

    Việc kết luận hệ nào có chi phí thấp hơn sẽ làm đảo chiều theo quy mô tải và cách công trình được vận hành. Cùng một cặp hệ, một tòa văn phòng cho thuê chạy theo giờ hành chính và một trung tâm thương mại mở cửa liên tục sẽ cho hai đáp án ngược nhau. 

    Văn phòng thường cần phân vùng theo sàn, khách sạn cần điều khiển tới từng phòng với tải rải suốt ngày đêm, còn bệnh viện đặt thêm yêu cầu khắt khe về cấp sạch của khí và kiểm soát chênh áp giữa các khu chức năng.

    Bốn yếu tố quyết định chi phí vận hành hệ VRV và Chiller

    Giới hạn vật lý cũng khép lại phạm vi lựa chọn. Hệ VRV chịu ràng buộc bởi chiều dài tuyến môi chất và chênh cao giữa dàn nóng với dàn lạnh. 

    Hệ chiller phủ dải công suất rộng hơn nên thường được xét tới khi quy mô tải vượt khỏi vùng thoải mái của hệ môi chất, dù tuyến nước lạnh cũng có giới hạn riêng về cột áp.v Ngưỡng cụ thể sẽ phụ thuộc cấu hình và chiều cao công trình, không có con số dùng chung.

    Chốt Phương Án Vào Lúc Nào Thì Còn Kiểm Soát Được Chi Phí?

    Phương án nên được chốt ở giai đoạn thiết kế cơ sở, khi phòng máy, shaft, tải trọng và công suất điện còn là con số trên bản vẽ. Chốt sau thời điểm đó, khoản đắt nhất không còn là chênh lệch giữa hai hệ, mà là chi phí sửa kiến trúc và kết cấu để chứa được hệ vừa chọn.

    Hai dữ liệu cần chốt sớm nhất là cao độ thông thủy trần kiến trúc và kích thước hệ thống cơ điện. Khi hai thông số này được xác định muộn, các bộ môn buộc phải điều chỉnh ngược, kéo theo thay đổi tiết diện và đi lại tuyến ống. 

    Nguyên tắc chi phối khá đơn giản: một thay đổi ở giai đoạn thiết kế thường rẻ hơn nhiều so với cùng thay đổi đó khi đã thi công. Cách chốt sớm các dữ liệu giao diện được trình bày chi tiết trong bài viết chốt trần, shaft, lỗ mở ngay từ đầu.

    Nói cho cùng, lựa chọn giữa hệ VRV và Chiller không phải bước chọn thiết bị ở cuối dự án. Nó khóa luôn diện tích phòng máy, tải trọng kết cấu, thể tích shaft và công suất điện, những thứ không sửa lại được bằng cách đổi model máy. 

    Mô hình BIM phối hợp kiến trúc, kết cấu và MEP khi lựa chọn phương án HVAC

    Trong vai trò tổng thầu thiết kế, Song Anh triển khai thiết kế đa bộ môn trên một mô hình dữ liệu chung, với QA-QC hồ sơ thiết kế theo từng bộ môn chạy trước khi hồ sơ phát hành.

    Nếu chủ đầu tư đang chuẩn bị triển khai dự án cao tầng và đang cân nhắc phương án trước khi tổng mức đầu tư được chốt, đội ngũ tư vấn thiết kế từ Song Anh có thể phối hợp cùng chủ đầu tư tiến hành rà soát ngay từ đầu dự án.

    FAQ - Câu Hỏi Thường Gặp Về Hệ VRV Và Chiller

    1. VRV và VRF có phải hai công nghệ khác nhau không?

    Không. VRV là tên thương mại do Daikin đăng ký độc quyền, còn VRF là thuật ngữ kỹ thuật chung cho công nghệ tương đương mà các hãng khác cung cấp. Cả hai cùng hoạt động trên nguyên lý thay đổi lưu lượng môi chất lạnh theo tải thực tế. Khác biệt nằm ở thương hiệu và tính năng riêng của từng nhà sản xuất, không phải ở bản chất công nghệ.

    2. Hệ chiller có luôn tiết kiệm điện hơn hệ VRV không?

    Không có kết luận dùng chung cho mọi dự án. Chi phí điện phụ thuộc tỷ lệ thời gian chạy non tải, số giờ vận hành trong năm và mức độ phân vùng điều khiển. Một hệ tiết kiệm hơn ở tòa nhà chạy liên tục vẫn có thể thua ở tòa nhà chỉ chạy theo giờ hành chính.

    3. Vì sao hai báo giá hệ VRV và chiller khó so trực tiếp?

    Vì hai báo giá không cùng phạm vi. Hệ chiller đẩy một phần chi phí sang phòng máy, tải trọng kết cấu, shaft và hạ tầng điện, những khoản nằm ngoài gói cơ điện nên không xuất hiện trong bảng giá. So hai con số cuối bảng vì thế bỏ qua đúng phần chênh lệch lớn nhất.

    4. Đổi từ hệ VRV sang chiller giữa chừng có tốn kém không?

    Thường tốn, và phần tốn nằm ngoài thiết bị. Hai hệ đòi hỏi phòng máy, shaft, tải trọng kết cấu và công suất điện khác nhau, nên đổi phương án sau khi kiến trúc và kết cấu đã chốt sẽ kéo theo sửa hồ sơ ở nhiều bộ môn.

    —————————————— 

    CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SONG ANH (SA)

    ????Toà nhà Gia Định - 566 Quốc Lộ 13, Phường Hiệp Bình, (Thủ Đức) TP.HCM

    ????Hotline: 0962 860 220

    ????Email: songanh.cm1@gmail.com

    ????Website: sa-corp.vn

     
    • Chia sẻ qua viber bài: So Sánh Chi Phí Đầu Tư Và Vận Hành Hệ VRV Và Chiller
    • Chia sẻ qua reddit bài:So Sánh Chi Phí Đầu Tư Và Vận Hành Hệ VRV Và Chiller

    News Category

    Loading...


    Menu

    Loading...
    Zalo
    SONG ANH CONSTRUCTION INVESTMENT CONSULTANCY CORPORATION