Hệ thống MEP cao tầng cần được kiểm soát sớm ở sáu nhóm: tiêu chí vận hành, dữ liệu đầu vào, quỹ không gian kỹ thuật, công suất thiết bị, phối hợp đa bộ môn và QA/QC hồ sơ. Chỉ cần một nhóm bị chốt muộn, thay đổi có thể lan sang kiến trúc, kết cấu, dự toán và tiến độ thi công.
Hệ thống MEP cao tầng sẽ cần đảm bảo phải kiểm soát chặt chẽ sáu nhóm yếu tố:
MEP trong các công trình cao tầng chính là phần cơ điện của tòa nhà, gồm nhóm cơ khí như điều hòa và thông gió, hệ cấp điện và điện nhẹ, cấp thoát nước, phòng cháy chữa cháy cùng các hệ điều khiển đi kèm, tùy phạm vi từng dự án. Đây là phần kỹ thuật chạy xuyên suốt mọi tầng, nên gần như không có quyết định kiến trúc nào không chạm tới nó.

Điều làm cao tầng khác biệt là quy mô được nhân lên theo chiều cao. Một tòa nhà cao có nhiều tầng và nhiều khu vực vận hành riêng, nhiều tuyến kỹ thuật chạy đứng và chạy ngang song song, mật độ thiết bị dày trong một không gian vốn đã chật.
Trong bối cảnh đó, một thay đổi nhỏ hiếm khi đứng yên một chỗ, còn yêu cầu về vận hành, bảo trì và an toàn thì đều cao hơn nhà thấp tầng. Dưới đây là 6 yếu tố nên đưa vào tầm kiểm soát ngay từ đầu:
6 yếu tố này không đứng tách rời, có thể hình dung: Dời một tuyến ống chính có thể chạm cao độ trần, kéo theo việc chỉnh kiến trúc, rồi vướng dầm và lỗ mở của kết cấu, cuối cùng làm lệch dự toán và tiến độ.
Khi càng đi sâu vào hồ sơ, chi phí sửa một thay đổi càng lớn, bởi nó lặp lại theo số tầng. Vì vậy, việc cần chủ đầu tư chốt đầu tiên không phải là lựa chọn thiết bị, mà là đáp ứng đúng các tiêu chí thiết kế mà dự án cần triển khai.
Phương án MEP chỉ phù hợp khi bám vào loại hình công trình, phân khúc, quy mô sử dụng, định hướng vận hành và ngân sách cho cả vòng đời. Không tồn tại một cấu hình dùng chung cho mọi công trình cao tầng.
Một phương án đáng tin thường tựa trên bốn nhóm căn cứ:
4 nhóm căn cứ này chính là đề bài mà mọi tính toán sau đó phải trả lời. Chúng cũng giải thích vì sao hai công trình nhìn giống nhau vẫn cần phương án khác nhau.

Chung cư, khách sạn, bệnh viện, văn phòng và tổ hợp thương mại có tải sử dụng, giờ vận hành, mức dự phòng và tiêu chuẩn tiện nghi rất khác nhau. Ngay cả hai dự án cùng là chung cư nhưng khác phân khúc cũng có thể cần cấu hình thiết bị và mức tiện nghi riêng.
Chọn phương án chỉ theo suất đầu tư ban đầu là cái bẫy dễ mắc. Con số rẻ hơn lúc mua thiết bị nhiều khi giấu đi chi phí điện năng, bảo trì, thay thế và cả khả năng vận hành thực tế về sau.
Nói cách khác, chính mục tiêu vận hành, chứ không phải cấp công trình, mới định hình tải, công suất và mức dự phòng của hệ thống MEP cao tầng. Khi tiêu chí đã rõ, phần việc kế tiếp là giữ đủ chỗ cho hệ thống trong không gian thật của tòa nhà.
Shaft, phòng kỹ thuật, trần kỹ thuật và các tuyến chính phải được xác lập trước khi kiến trúc và kết cấu đóng cứng mặt bằng. Đây là quỹ không gian mà mọi tuyến ống và thiết bị của hệ thống MEP cao tầng sẽ phải nằm vào, nên thiếu chỗ ở đây gần như luôn để lại hậu quả.
Những dữ liệu cần phối hợp sớm khá cụ thể:
Trong số đó, khu vực hành lang và tầng hầm là nơi nhiều tuyến kỹ thuật dồn lại, nên chỉ thiếu vài centimet thông thủy cũng ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm và khả năng sử dụng. Trần căn hộ, khu vệ sinh có đường ống âm tường, hay vị trí đặt dàn nóng và quạt cũng cần được rà cùng lúc với kiến trúc, chứ không để lại sau.
>>> Xem thêm:Vì Sao Thiết Kế MEP Cần Chốt Trần, Shaft, Lỗ Mở Ngay Từ Đầu?

Điểm khó nhất của bài toán không gian kỹ thuật là khả năng sửa đổi gần như “không thể” một khi kết cấu đã chốt. Khi mặt bằng đóng cứng quá sớm mà chưa chừa đủ chỗ cho MEP, lựa chọn còn lại thường chỉ là đổi tuyến vòng vèo, hạ trần hoặc thay thiết bị, cả ba đều tốn kém hơn. Vì shaft và phòng kỹ thuật chạy suốt chiều cao tòa nhà, một vị trí đặt sai ở tầng điển hình sẽ nhân lên theo số tầng, biến một sơ suất nhỏ thành khoản phát sinh lớn.
Công suất và thiết bị của hệ thống MEP cao tầng nên được xác định từ nhu cầu sử dụng thực, không chọn theo kinh nghiệm chung hay tăng dự phòng thiếu kiểm soát. Đây là chỗ phân biệt một phương án có cơ sở với một phương án chỉ chọn thiết bị theo thói quen.

Dưới đây là các nhóm dữ liệu cùng chi phối kết quả:
Các thông số này ràng buộc lẫn nhau, nên đổi một con số thường kéo theo cả nhóm. Quan hệ giữa thiết kế và chi phí lộ ra rõ nhất qua kích thước.
Hiểu đơn giản: Tuyến lớn hơn cần thêm không gian và vật liệu; thiết bị lớn hơn ảnh hưởng đến diện tích phòng kỹ thuật, nguồn điện và cả đường vận chuyển vào vị trí lắp. Dự phòng quá thấp tạo rủi ro khi vận hành, còn dự phòng quá cao vừa đội chi phí đầu tư, vừa có thể khiến thiết bị chạy non tải và hao điện.
Vì vậy, một thiết bị đủ tải trên bảng tính chưa chắc đã là lựa chọn phù hợp. Nó vẫn có thể sai nếu không đặt vừa phòng kỹ thuật, khó đưa vào vị trí lắp, hoặc không còn lối tiếp cận khi cần thay thế.
Phối hợp đa bộ môn chỉ đáng tin khi kiến trúc – kết cấu – MEP dùng chung một hệ tọa độ, cùng cao độ chuẩn, cùng phiên bản dữ liệu và cùng quy tắc kiểm soát. Thiếu nền chung đó, mọi kết quả kiểm tra đều lung lay.
>>> Tìm hiểu thêm: Thiết Kế MEP Nhà Cao Tầng: Từ Phối Hợp Kỹ Thuật Đến Thi Công

Một mạch phối hợp hợp lý thường đi qua 6 bước:
Một ví dụ điển hình cho thấy vì sao phối hợp sớm lại quan trọng: một tuyến ống gió hoặc ống chính đi qua khu vực dầm và làm giảm cao độ trần. Nếu phát hiện muộn, cách xử lý không còn đơn giản, vì đổi tuyến, hạ trần hay dời lỗ mở lúc này đều chạm sang bộ môn khác.
Trong trường hợp này, kiến trúc – kết cấu – MEP phải cùng cân một phương án vừa giữ an toàn kết cấu, vừa đạt yêu cầu kỹ thuật của MEP, vừa bảo toàn công năng và khả năng thi công. Không có luật cứng kiểu MEP luôn phải nhường, mà là một sự cân bằng giữa các ràng buộc.
QA/QC cho hồ sơ MEP cần kiểm cả cơ sở thiết kế, dữ liệu mô hình, sự thống nhất giữa các bộ môn và khả năng thi công, chứ không chỉ rà lỗi thể hiện trên bản vẽ. Đây là lớp kiểm soát cuối trước khi mọi quyết định phía trên được đưa ra công trường.

Chủ đầu tư có thể dùng một vài câu hỏi dưới đây để đánh giá độ tin cậy của phương án và hồ sơ:
Một phương án chưa tối ưu đa phần chỉ trình bày thiết bị mà không giải thích cơ sở chọn, mô hình và bản vẽ lệch nhau, nhiều khu vực ghi xử lý tại hiện trường, thiếu mặt cắt ở chỗ tập trung nhiều tuyến, hoặc không giải thích được cách bảo trì thiết bị về sau. Ngược lại, một bộ hồ sơ đáng tin cậy là nơi mà mọi quyết định phía trên được lưu lại đủ để người khác đọc và thi công lại đúng ý đồ.

Tổng Thầu Thiết Kế Song Anh chính là đầu mối phối hợp kiến trúc – kết cấu – MEP trên cùng một quy trình, giúp chủ đầu tư đỡ phải tự ghép nối nhiều đơn vị thiết kế riêng lẻ, giá trị của một bộ hồ sơ MEP không nằm ở số lượng bản vẽ, mà ở chỗ các quyết định trong đó có thể ra công trường và trụ được suốt quá trình vận hành.
Nếu dự án đang ở giai đoạn cần rà soát phương án thiết kế MEP trong tổng thể kiến trúc, kết cấu và vận hành, chủ đầu tư có thể liên hệ đội ngũ Song Anh để nhận được phương án tư vấn thiết kế cơ điện MEPF tối ưu nhất, đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn triển khai của dự án.
——————————————
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SONG ANH (SA)
Toà nhà Gia Định - 566 Quốc Lộ 13, Phường Hiệp Bình, (Thủ Đức) TP.HCM
Hotline: 0962 860 220
Email: songanh.cm1@gmail.com
Website: sa-corp.vn