Tiêu chí thiết kế kết cấu công trình cấp 1 không phải bản danh sách do đơn vị tư vấn tự đặt ra, mà là năm điều kiện kỹ thuật đã được quy định tại Nghị định 217/2026/NĐ-CP để cơ quan thẩm tra làm căn cứ đánh giá hồ sơ. Bốn tiêu chí đầu đo các chỉ số an toàn chịu lực, tiêu chí thứ năm chuẩn hóa cách trình bày và đối chiếu số liệu. Dưới đây là những điểm chủ đầu tư tự kiểm soát được và các mốc còn kịp điều chỉnh.
Năm tiêu chí thiết kế kết cấu công trình cấp 1 gồm khả năng chịu lực của cấu kiện, tính ổn định tổng thể và ổn định cục bộ, chuyển vị và biến dạng của công trình.
Hai tiêu chí còn lại là biến dạng giới hạn của nền móng và năng lực đối chiếu kết quả tính toán với tiêu chuẩn áp dụng. Toàn bộ danh mục này được luật hóa tại điểm c khoản 2 Điều 22 Nghị định 217/2026/NĐ-CP.
Quy định trên bắt buộc thuyết minh tính toán kết cấu và nền phải có một bảng tổng hợp đối chiếu. Bảng đó đặt từng kết quả tính bên cạnh chỉ số giới hạn của tiêu chuẩn, để đơn vị thẩm tra có cơ sở kết luận. Rà soát hồ sơ theo bảng này nhanh hơn hẳn đọc từng trang bản vẽ.
Dưới đây là năm tiêu chí cùng phần việc mà hồ sơ phải chứng minh cho từng tiêu chí:
| Tiêu chí | Hồ sơ phải chứng minh điều gì | Không đạt thì mất gì |
|---|---|---|
| 1. Khả năng chịu lực của cấu kiện | Dầm, sàn, cột, vách và móng đủ sức chịu tổ hợp tải trọng bất lợi nhất | An toàn công trình |
| 2. Ổn định tổng thể và cục bộ | Công trình không mất ổn định dưới gió và động đất | An toàn và khả năng thi công |
| 3. Chuyển vị và biến dạng công trình | Chuyển vị ngang và độ võng nằm trong giới hạn của tiêu chuẩn | Nứt tường, kẹt cửa, vỡ vách kính |
| 4. Biến dạng giới hạn của nền móng | Độ lún và lún lệch nằm trong ngưỡng cho phép | Nứt kết cấu, chi phí xử lý lớn |
| 5. Đối chiếu với tiêu chuẩn áp dụng | Mỗi kết quả tính đặt cạnh trị số giới hạn của đúng phiên bản đang hiệu lực | Hồ sơ bị trả, chậm mời thầu |
4 tiêu chí đầu tiên quyết định mức an toàn và công năng sử dụng thực tế của công trình. Tiêu chí thứ năm không thêm phép tính nào, nhưng đòi hỏi kết quả phải trình bày minh bạch để bên thứ ba kiểm chứng được, và đây là thiếu sót phổ biến nhất khiến hồ sơ bị yêu cầu giải trình.
Mọi cấp công trình đều phải thỏa mãn năm tiêu chí này, riêng công trình cấp 1 còn chịu thêm một tầng trách nhiệm pháp lý khắt khe hơn.
Công trình cấp 1 chịu kiểm soát chặt hơn không hẳn vì mô hình tính toán phức tạp hơn, mà vì ba nghĩa vụ pháp lý đặc thù cộng một chuyển dịch thẩm quyền phê duyệt sang chính chủ đầu tư.
Hồ sơ cấp 1 bắt buộc qua thẩm tra thiết kế, và phải phát hành tập chỉ dẫn kỹ thuật riêng thay vì gộp vào thuyết minh, theo khoản 3 Điều 24 Nghị định 217/2026/NĐ-CP.
Nghĩa vụ thứ ba là áp dụng mô hình thông tin công trình BIM ngay từ bước lập Báo cáo nghiên cứu khả thi, theo điểm a khoản 1 Điều 8 của cùng nghị định.
Các nghĩa vụ này kích hoạt ngay khi quy mô dự án chạm ngưỡng cấp 1, nên xác định đúng cấp công trình là việc làm trước tiên.
Thông tư 34/2026/TT-BXD, hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và thay cho Thông tư 06/2021/TT-BXD, phân cấp công trình xây dựng theo 5 ngưỡng quy mô kết cấu sau:
Năm ngưỡng trên được xét độc lập với nhau, cấp công trình lấy theo giá trị cao nhất xác định được, nên chạm một ngưỡng là đủ.
Ví dụ, một tòa tháp hỗn hợp cao 25 tầng với diện tích sàn 22.000 m² vẫn là công trình cấp 1 theo số tầng, dù riêng chỉ tiêu diện tích sàn mới dừng ở mức cấp 2.
Điểm chuyển dịch căn bản nhất nằm ở thẩm quyền thẩm định thiết kế. Từ ngày 01/7/2026, khoản 1 Điều 29 Luật Xây dựng năm 2025 số 135/2025/QH15 giao chủ đầu tư tự thẩm định, kiểm soát và phê duyệt thiết kế triển khai sau thiết kế cơ sở.
Cơ quan chuyên môn về xây dựng không còn chủ trì thẩm định bước này. Bù lại, khoản 3 Điều 29 buộc nhóm công trình ảnh hưởng lớn đến an toàn và lợi ích cộng đồng, gồm toàn bộ công trình dân dụng cấp 1 theo Phụ lục IV Nghị định 217/2026/NĐ-CP, phải qua thẩm tra thiết kế.
Kết luận về an toàn chịu lực vì vậy nằm trong báo cáo thẩm tra, và báo cáo ấy viết theo đúng năm tiêu chí nêu trên, bắt đầu từ khả năng chịu lực của hệ kết cấu.
Khả năng chịu lực được chứng minh bằng bảng tính cho từng cấu kiện dầm, cột, vách cứng, sàn và đài móng dưới tổ hợp tải trọng bất lợi nhất.
Đi kèm là kết quả phân tích ổn định tổng thể cho cả tòa nhà. Với nhà cao tầng, tổ hợp chi phối thường là tĩnh tải và hoạt tải cộng thêm tác động ngang của gió bão và động đất.
Khái niệm ổn định trong tính toán bao hàm hai cấp độ. Ổn định tổng thể xem xét khả năng chống lật và chống trượt của toàn khối nhà dưới tải trọng ngang, kiểm tra bằng tỷ số giữa mô men giữ và mô men gây lật.
Ổn định cục bộ phân tích nguy cơ mất ổn định hình học của từng bản thành hoặc bản cánh cấu kiện dưới ứng suất nén lớn. Đây là bài toán chi phối trong kết cấu thép hơn là trong kết cấu bê tông cốt thép đặc chắc. Đó là lý do văn bản pháp quy dùng cụm từ "nếu có" cho trường hợp cục bộ.
Điều chủ đầu tư cần lưu tâm là phiên bản tiêu chuẩn được viện dẫn trong thuyết minh. Tải trọng và tác động phải lấy theo TCVN 2737:2023, còn tính toán kháng chấn áp dụng bộ TCVN 9386-1:2025 và TCVN 9386-5:2025 do Bộ Khoa học và Công nghệ công bố ngày 31/12/2025 để thay bản 2012.
Bộ mới gồm Phần 1 cho kết cấu phần thân và Phần 5 cho móng cùng các vấn đề địa kỹ thuật, nên hồ sơ chỉ dẫn chung một mã TCVN 9386:2012 là hồ sơ chưa rà lại theo tiêu chuẩn mới.
Mức chuẩn xác của phần tính toán này phụ thuộc vào mô hình không gian nhiều hơn chủ đầu tư thường hình dung.
Khi kỹ sư dựng mô hình trên phần mềm phân tích kết cấu như ETABS, bốn nhóm lỗi hay gặp là nhầm đơn vị đo, khai báo sai điều kiện biên ngàm móng, gán độ cứng nứt chưa phù hợp và phân phối diện tải truyền không chính xác.
Đơn vị thẩm tra soi đúng bốn chỗ đó khi kiểm tính, nên hồ sơ bàn giao cần kèm cả file mô hình gốc chứ không chỉ tập thuyết minh in ấn.
Một nguyên tắc nghề nghiệp cần nhắc trước khi bàn tới chuyện tiết giảm chi phí: an toàn kết cấu là ưu tiên trước, tối ưu vật liệu là bước đi theo sau.
Tối ưu đúng nghĩa là phân bổ vật liệu hợp lý để cấu kiện chịu lực hiệu quả và thuận lợi thi công, chứ không phải cắt bớt cốt thép để giảm giá thành. Hệ khung đã chứng minh được là vững chãi, hai tiêu chí tiếp theo đánh giá tiện nghi và độ bền của lớp hoàn thiện.
Vượt giới hạn chuyển vị ngang thì bộ khung chịu lực chưa sụp đổ ngay, nhưng lớp hoàn thiện kiến trúc hỏng trước: tường xây nứt nẻ, cửa nhôm kính bị kẹt, hệ vách kính mặt dựng có nguy cơ nứt vỡ do biến dạng ép.
Vượt ngưỡng biến dạng nền móng thì lún không đều làm phát sinh ứng suất cục bộ rất lớn, gây nứt xuyên qua dầm và sàn chịu lực chính. Điểm thuận lợi là cả hai tiêu chí này đều có con số định lượng rõ ràng để ban quản lý tự kiểm tra.
Chuyển vị ngang tại đỉnh nhà nhiều tầng chịu tải trọng gió không được vượt quá h/500 theo Bảng G.5 Phụ lục G của TCVN 2737:2023, trong đó h là tổng chiều cao công trình.
Với một tòa tháp cao 100 m, độ lệch ngang tối đa ở đỉnh nhà là 200 mm, và chỉ số này hiển thị rõ ngay trên bảng kết quả mô hình.
Với chuyển vị tương đối giữa các tầng liền kề, tiêu chuẩn siết chặt hơn tùy vật liệu của hệ tường bao che. Tường gạch xây, tường bê tông thạch cao hoặc tấm panel bê tông cốt thép liên kết cứng vào khung thì giới hạn chuyển vị tầng là h/500, với h là chiều cao tầng.
Tường xây ốp đá tự nhiên hoặc gạch gốm, cũng liên kết cứng, bị siết xuống h/700 vì lớp vật liệu ốp rất giòn và dễ nứt vỡ khi khung biến dạng.
Đây cũng là chỗ nhiều hồ sơ hay dẫn nhầm căn cứ. Điều 11 và Phụ lục G của TCVN 2737:2023 đã thay thế Phụ lục M của TCVN 5574:2018, trong khi một số đơn vị tư vấn vẫn quen tra bảng cũ.
Hỏi bảng tính chuyển vị đang tra theo phụ lục nào là biết ngay hồ sơ có được rà lại sau năm 2023 hay chưa.
Tiêu chí thứ tư kiểm soát phần địa kỹ thuật dưới chân công trình. Bảng 16 TCVN 9362:2012 quy định hai nhóm trị số biến dạng nền: độ biến dạng tương đối giữa các móng và độ lún tuyệt đối lớn nhất của công trình.
Trong nhà nhiều tầng khung bê tông cốt thép, lún lệch tương đối giữa các móng là nguy cơ lớn nhất vì nó làm phát sinh nội lực uốn xoắn nguy hiểm trong khung, còn lún đều ít gây phá hoại kết cấu hơn.
Với móng cọc, hồ sơ phải thể hiện đủ sức chịu tải đầu cọc và độ lún dự báo theo TCVN 10304:2025 vừa thay bản 2014. Bốn tiêu chí kỹ thuật này chỉ thực sự hoàn tất khi được tổng hợp đối soát trong một biểu mẫu chuẩn.
Bảng tổng hợp tiêu chí an toàn phải đặt kết quả tính và trị số giới hạn của tiêu chuẩn trên cùng một hàng, để người kiểm tra nhìn ra ngay đạt hay không đạt.
Một dòng đủ thông tin gồm 4 ô: tên tiêu chí kiểm tra, giá trị tính được từ mô hình, ngưỡng giới hạn theo tiêu chuẩn, và kết luận đạt hoặc không đạt. Thiếu cột đối chiếu giới hạn thì tài liệu chỉ còn là một tập số liệu, và đơn vị thẩm tra không có đủ cơ sở để ký xác nhận hồ sơ.
Để bảng đối chiếu có giá trị, danh mục tiêu chuẩn áp dụng phải chuẩn ngay từ thuyết minh. 6 bộ tiêu chuẩn dưới đây tạo nên khung kỹ thuật nền tảng cho thiết kế kết cấu bê tông cốt thép nhà cao tầng tại Việt Nam:
| Nội dung tính toán | Tiêu chuẩn hiện hành | Thay cho bản nào |
|---|---|---|
| Kết cấu bê tông và bê tông cốt thép | TCVN 5574:2018 | TCVN 5574:2012 |
| Tải trọng, độ võng và chuyển vị giới hạn | TCVN 2737:2023 | TCVN 2737:1995 |
| Thiết kế móng cọc | TCVN 10304:2025 | TCVN 10304:2014 |
| Thiết kế kết cấu chịu động đất | TCVN 9386-1:2025 và TCVN 9386-5:2025 | TCVN 9386:2012 |
| Kết cấu xây dựng và nền, nguyên tắc cơ bản về tính toán | TCVN 9379:2012 | TCXD 40:1987 |
| Thiết kế nền nhà và công trình | TCVN 9362:2012 | TCXD 45:1978 |
Một nửa số tiêu chuẩn trong bảng trên đã có phiên bản mới từ năm 2023 tới nay, và đó cũng là các vị trí mà hồ sơ thiết kế cũ hay dẫn chiếu sai. Người quản lý dự án chỉ cần kiểm tra năm ban hành của những tiêu chuẩn này là đánh giá được mức độ tin cậy của bộ hồ sơ tính toán.
Theo khoản 2 Điều 23 Nghị định 217/2026/NĐ-CP, bảng tổng hợp đối chiếu không chỉ bắt buộc ở bước thiết kế cơ sở, mà còn là thành phần bắt buộc của hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công. Khi đã nắm được nội dung cần kiểm, việc còn lại là xác lập đúng thời điểm kiểm trong tiến độ dự án.
Có ba thời điểm chủ đầu tư nên đặt lịch kiểm: khi chốt phương án kết cấu ở thiết kế cơ sở, khi nhận báo cáo thẩm tra, và khi tự thẩm định ngay trước lúc phát hành hồ sơ mời thầu xây lắp theo khoản 1 Điều 41 Nghị định 217/2026/NĐ-CP.
Qua mốc thứ ba, mọi sai sót phát hiện được đều chuyển thành chi phí đục phá và chậm tiến độ ngoài công trường.
Ở mốc thứ nhất, nội dung cần chốt dứt điểm là danh mục lỗ mở kỹ thuật, sleeve xuyên sàn, vị trí hộp shaft và cao độ thông thủy trần hoàn thiện. Hồ sơ thiết kế cơ sở đã được phê duyệt thì không gian điều chỉnh gần như đóng lại.
Khi kiến trúc, kết cấu và cơ điện cùng nằm trên một mô hình BIM, các bên phát hiện và xử lý xung đột không gian ngay trên màn hình, trước khi bản vẽ ra công trường. Còn nếu hệ tọa độ hoặc cao độ mốc bị lệch, mọi kết quả tính dù đúng trên lý thuyết vẫn dẫn tới hụt thông thủy ngoài thực tế.
Ở mốc thứ hai, khoản 4 Điều 41 cho phép chủ đầu tư yêu cầu đơn vị thẩm tra giải trình hoặc bổ sung báo cáo nếu nội dung đánh giá chưa đủ rõ. Đây là quyền ít được dùng, trong khi nó chính là công cụ để đòi một bảng tổng hợp đủ cột đối chiếu và có kết luận cho từng tiêu chí.
Mốc thứ ba nặng nhất, vì đây là lần chính chủ đầu tư đặt bút phê duyệt thiết kế. Việc cần làm không phải rà lại từng con số, mà là đối soát báo cáo thẩm tra với bảng tổng hợp an toàn trong thuyết minh, xem có tiêu chí nào còn bỏ trống kết luận không.
Ký xong là hồ sơ đi vào hồ sơ mời thầu, và từ đó mọi thay đổi đều chạm tới giá trị hợp đồng xây lắp. 3 mốc kiểm soát này là chỗ Song Anh làm việc thường xuyên trên các dự án cao tầng cấp 1, ở những vai trò khác nhau:
Theo kinh nghiệm triển khai thực tế từ đội ngũ kết cấu Song Anh, phần lớn hồ sơ bị trả về không vì tính sai, mà vì thiếu sự minh bạch cần thiết để người khác kiểm lại được.
Nếu chủ đầu tư đang chuẩn bị một công trình cấp 1 và muốn rà lại hồ sơ kết cấu trước khi ký duyệt, chủ đầu tư có thể trao đổi qua trang tư vấn thiết kế. Trình tự các bước thì xem trong bài quy trình thiết kế kết cấu bê tông cốt thép công trình cấp 1.
——————————————
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SONG ANH (SA)
Toà nhà Park IX - số 08 Phan Đình Giót, Phường Tân Sơn Hoà, TP.HCM
Hotline: 0969 865 728
Email: tnc@sa-corp.vn